Bạch Thoại Phật Pháp - Bộ 12 Quyển - Quyển 2

Bạch Thoại Phật Pháp - Bộ 12 Quyển - Quyển 2

Tập 45. Vô niệm tức thị hữu niệm, vô đức tức thị hữu đức

Bộ 12 Quyển - Quyển 2 25 Th06 2026

45. Vô niệm tức thị hữu niệm, vô đức tức thị hữu đức

QUYỂN 2 – TẬP 45

VÔ NIỆM TỨC THỊ HỮU NIỆM, VÔ ĐỨC TỨC THỊ HỮU ĐỨC

(

无念就是有念,无德即是有德

)

Phải hiểu rằng, khi trong tâm nghĩ “tôi có công đức”, thì thực ra là không có công đức. Hôm nay quý vị làm công đức ở đây, nhưng trên thực tế lại chưa chắc đã có công đức. Chính vì không chấp vào công đức, đó mới thật sự gọi là công đức. Khi quý vị không có tâm hại người, thì quý vị chính là người tốt. Khi khởi tâm muốn giúp người khác, bề ngoài đừng nói rằng mình có công đức; nhưng trên thực tế, hễ giúp người thì tự nhiên sẽ có hồi báo. Quý vị giúp người, người ta chưa chắc sẽ cảm ơn ngay. Nếu trong tâm mong người khác phải cảm ơn mình, thì việc thiện ấy cũng không còn trọn vẹn nữa. Quý vị giúp người khác,

người ta nhất định sẽ cảm ơn quý vị

, như vậy là có công đức. Cho nên công đức cũng là như vậy: khi không nghĩ mình có công đức, thì ngược lại là có công đức; còn khi trong tâm muốn có công đức, thì lại không có công đức. Làm công đức rồi thì đừng nghĩ đến nó. Làm được một chút việc thiện mà đã cảm thấy mình ghê gớm, sợ người khác không biết, như vậy là đã khởi tâm chấp trước. Hữu vi nhi vô vi, vô vi nhi hữu vi (làm mà như không làm, không chấp tướng làm). Người thật sự làm thì không nói; người chỉ nói thì không làm. Vừa làm vừa nói để người khác biết, thì công đức ấy cũng không còn nữa. Quý vị có thể hiểu được không?

Phật pháp thâm sâu vô lượng. Einstein từng nói rằng Phật pháp là tôn giáo duy nhất trong tương lai của thế giới và vũ trụ, có thể khai mở tư duy của nhân loại. Những điều Phật pháp mà Sư phụ giảng giải đều mang lại sự giúp đỡ rất lớn cho quý vị. Nếu quý vị thật sự đối xử tốt với người khác, thì lòng biết ơn của họ đều ở trong tâm, đó gọi là vô vi. Việc quý vị làm dường như là vô vi, nhưng thực ra là hữu vi. Khi quý vị cho rằng mình là hữu vi, thì trên thực tế lại là vô vi. Rất nhiều người phát tâm thì dễ, nhưng làm được mới khó. Khuyết điểm của con người là phát tâm rất dễ, nhưng lại không có lòng kiên trì để tiếp tục thực hành. Niệm thực ra là khi có khi không. Niệm của con người, trên thực tế vốn là không, là trống không, cho nên nói theo thực tướng thì là “vô”. Nhưng nếu nói niệm là vô, vậy nó có tồn tại hay không? Nó vẫn tồn tại. Một vạn niệm, một triệu niệm xoay chuyển trong đầu; nhưng khi xoay xong, dừng lại rồi, thì cũng không còn nữa. Vì vậy, phải đem những niệm ấy “vạn niệm quy nhất”, gom chúng lại, tập trung lại. Tu tâm học Phật, khi tu đến một cảnh giới nhất định, thì phải quên cả cái niệm ấy đi, đến mức không còn chấp vào niệm nữa.

Phải hiểu rõ chính mình. Đời người vốn chỉ là một giấc mộng. Nếu nói rằng đời người là một giấc mộng, thì chỉ sau khi đã khai ngộ rồi mới dám nói như vậy. Nếu ngay cả sự giác ngộ ấy cũng không có, đến việc đời người là một giấc mộng còn không biết, thì coi như sống uổng một đời nơi nhân gian. Phải vì lợi ích của mọi người mà sẵn sàng hy sinh tất cả; còn vì lợi ích riêng của bản thân (tư dục) thì phải dứt bỏ hoàn toàn, đó mới gọi là học Phật. Phải thường xuyên suy ngẫm về một câu mà Sư phụ hay dạy: “Vô dục tự nhiên tâm như nước.” Tuyệt đối đừng khởi tâm dục vọng, vì dục vọng mang đến cho quý vị chính là sự thất vọng. Dục vọng càng nhiều thì thất vọng càng lớn; thất vọng càng lớn thì phiền não nối tiếp kéo đến; mà phiền não thì có thể làm tổn thương tâm mình.

Sư phụ nói rằng đối với dục vọng của thế nhân thì phải dứt khoát đoạn trừ. Dục vọng của con người, Sư phụ ví dụ cho quý vị nghe: nó giống như một mũi tên, cái gì cũng muốn đạt cho bằng được mục đích của mình. Nhưng dục vọng lớn nhất của con người giống như bắn mũi tên lên trời, nó lớn đến mức không gì sánh bằng. Vì vậy dục vọng của con người vốn không thể đạt tới. Giống như một mũi tên bắn lên trời, quý vị có thể bắn cao đến đâu? Bắn đến một mức độ nhất định thì tự nhiên sẽ rơi xuống, chỉ là một phen lao lực vô ích. Tất cả đều là vô sở đắc. Không có gì thật sự có thể nắm giữ. Dục vọng của con người khiến rốt cuộc chẳng đạt được điều gì chân thật. Cho dù có đạt được, thì cũng chỉ là tạm thời; cuối cùng lại mất đi, rốt cuộc vẫn là không đạt được. Quý vị hiểu chăng? Trên thế gian này không có đúng hay sai để tranh cãi, chỉ có nhân quả – tất cả đều chỉ là một giấc mộng.

Vô niệm chính là Chánh giác, là Phật bảo. Nghĩa là không khởi vọng niệm; như vậy mới gọi là học Phật đúng chánh pháp, gọi là Chánh giác, Chánh niệm. Khi quý vị có sự giác ngộ chân chánh, có niệm chân chánh, thì quý vị đã tiến gần đến quả vị của chư Phật và chư Bồ Tát. Vô niệm chính là Chánh giác, là Phật bảo. Nghĩa là không khởi vọng niệm; như vậy mới gọi là học Phật đúng chánh pháp, gọi là Chánh giác, Chánh niệm. Khi quý vị có sự giác ngộ chân chánh, có niệm chân chánh, thì quý vị đã tiến gần đến quả vị của chư Phật và chư Bồ Tát.

Tiếp theo, Sư phụ giảng cho mọi người: thế nào gọi là vô niệm? Chính là không còn niệm vọng khởi lên. Không có niệm thì không có phiền não. Hiện nay Sư phụ dạy quý vị một phương pháp để “vạn niệm quy nhất”. Nếu chưa thể đạt đến vô niệm, thì trước hết hãy quy về một niệm. Ví dụ như khi xem truyền hình, tâm trí hoàn toàn nhập vào nội dung bộ phim, những niệm khác tạm thời đều không còn. Đó chính là quy về một niệm. Nhưng phải dần dần chuyển niệm ấy sang việc tin Phật, khiến mỗi niệm đều hướng về Phật. Sau khi đã an trụ trong niệm tin Phật, thì tiếp tục chuyển dần đến vô niệm, đến cả niệm “ta đang tin Phật” cũng không còn. Lúc ấy tuy không còn khởi niệm tin Phật, nhưng thực chất đã ở trong Phật, đang hành trì và lễ Phật.

Sư phụ nói cho quý vị nghe một ví dụ về vô niệm. Khi quý vị quỳ xuống lễ Phật, trong đầu có niệm không? Thân và tâm vẫn đang lễ Phật, động tác vẫn đang thực hành, nhưng có khởi niệm lăng xăng nào không? Nếu nói hoàn toàn không có niệm thì làm sao có thể lễ Phật? Cho nên vẫn có niệm. Thế nhưng, niệm ấy chỉ đơn thuần khiến quý vị biết mình đang lễ Phật, rồi không còn khởi thêm vọng niệm nào khác,  đó chính là vô niệm. Giống như một người làm một động tác đã quen thuộc, quen đến mức không còn ý thức rõ mình đang làm gì, đó gọi là vô niệm. Niệm Phật cũng phải niệm đến mức “niệm niệm hữu niệm, niệm niệm vô niệm”: trong mỗi niệm dường như có niệm, nhưng trong mỗi niệm lại không chấp vào niệm. Tự mình đang niệm, dường như có niệm; niệm mãi đến sau cùng thì không còn niệm nữa. Chẳng phải khi tụng kinh cũng như vậy sao? Lúc mới bắt đầu tụng còn biết từng chữ; tụng dần dần nhanh hơn, đến sau cùng lại không còn phân biệt mình đang tụng điều gì, đó gọi là vô niệm học Phật. Học đến chỗ rốt ráo là đạt đến “niệm niệm vô niệm”, không còn khởi tâm phân biệt. Chư Phật, chư Bồ Tát dạy chúng ta lễ Phật trong trạng thái không khởi vọng niệm, đó mới chính là hữu niệm chân thật: đem toàn bộ tâm mình giao phó cho chư Phật, chư Bồ Tát, để mọi niệm đều an trụ nơi Phật. Như vậy mới gọi là hữu niệm. Quý vị hiểu chăng?

Phải ghi nhớ rằng, phiền não của chính mình phải đoạn tận. Nếu không đoạn trừ, phiền não sẽ tích lũy ngày càng nhiều; phiền não càng nhiều, gương mặt quý vị sẽ trở thành một gương mặt đầy phiền não. Vì vậy, phiền não đến bao nhiêu thì phải tiêu trừ bấy nhiêu. Nếu đem phiền não quá khứ chồng lên người, lại không ngừng chất thêm phiền não hiện tại, tinh thần quý vị sẽ không chịu nổi, thậm chí rối loạn; thân thể cũng chống đỡ không nổi mà suy sụp, cuối cùng tự làm hại chính mình. Phải nhớ rằng, phiền não giữ lại càng lâu thì tích tụ càng nhiều. Thời gian dài, quý vị sẽ bị phiền não trói buộc như dây thừng quấn chặt. Vì phiền não thuộc về cõi người, nên quý vị sẽ bị những phiền não của cõi người trói buộc mãi, càng quấn càng nhiều, đến cuối cùng không thoát khỏi lục đạo luân hồi, vẫn rơi trong vòng sinh tử thế gian, không ra khỏi lục đạo được. Vì thế, niệm Phật mà ngay cả ý niệm muốn thành Phật cũng không nên chấp trước. Khi tụng kinh, ngay cả ý nghĩ “ta muốn thành Phật” cũng buông xuống, thì quý vị đã thành tựu Phật tánh từng phần, tức là trong từng phần tâm niệm đã có Phật. Giống như hôm nay quý vị giúp người mà không cầu báo đáp, tự nhiên sẽ có hồi báo; còn nếu giúp người mà mong người đền đáp, thì ngược lại sẽ không được báo đáp.

Hãy đem tất cả những điều đang chất chứa trong lòng móc rỗng ra, biến thành không còn việc gì nữa. Sư phụ dạy quý vị một cách để “móc rỗng”: khi ban đêm không ngủ được, thì hãy viết hết những phiền não trong lòng ra, đặt bên cạnh giường. Khi quý vị đã đem tất cả mọi việc móc rỗng ra rồi, thì sẽ ngủ được. Nhưng đó chỉ là phương pháp của thế gian. Sư phụ muốn quý vị dùng phương pháp niệm kinh để hóa giải và trừ bỏ toàn bộ phiền não của mình. Khi không còn phiền não nữa, quý vị sẽ ngủ được.

Mỗi lần Sư phụ giảng bài cho quý vị đều là đang giúp quý vị biết cách loại trừ phiền não. Dĩ nhiên, phương pháp tốt nhất vẫn là chính quý vị tự mình loại trừ phiền não; điều đó còn tốt hơn nhiều so với việc Sư phụ giúp quý vị loại trừ. Ví dụ, một đứa trẻ ngoan khi ngồi dưới lớp học mà không nói chuyện, thì vẫn tốt hơn nhiều so với việc để Sư phụ phải nhắc: “Con đừng nói chuyện.” Hiện nay trên thân quý vị còn có nghiệp chướng, còn có khuyết điểm. Sư phụ nói người này không tốt, nói người kia không tốt, quý vị nói xem Sư phụ có mệt không? Quý vị tự mình tu sửa còn tốt hơn nhiều so với việc để Sư phụ phải nhắc nhở tu hành. Đó mới gọi là giác ngộ. Vì quý vị chưa giác ngộ, nên trong lòng mới có tâm sự, lại thêm phiền não, khiến mình càng ngày càng phiền hơn. Nếu trong tâm không còn việc riêng tư, biết buông xuống chuyện của bản thân, quên đi lợi ích của mình mà đặt việc của chúng sinh vào lòng, thì khi ấy quý vị mới thật sự có được niềm vui. Khi đem tâm hướng về mọi người, quý vị sẽ nhận được rất nhiều niềm vui. Mọi người cùng vui, cùng hạnh phúc, còn tốt hơn một người tự vui, tự hạnh phúc, không biết bao nhiêu lần. Chỉ khi tâm hướng về đại chúng, quý vị mới có được niềm vui chân thật.

Vì vậy phải đoạn trừ phiền não, đoạn trừ hết thảy phiền não, để tâm không còn vướng mắc điều gì. Khi ấy quý vị sẽ không còn mất ngủ, không còn suy nghĩ lung tung; bởi vì không có phiền não thì sẽ không mất ngủ, cũng không nghĩ ngợi quá nhiều, và tự nhiên sẽ có được nhiều niềm vui hơn. Nếu đã mất ngủ mà còn tiếp tục nghĩ đến những chuyện phiền não, thì cuối cùng lại sinh ra thêm nhiều việc, nhiều phiền não hơn nữa. Cho nên phải đoạn tận mọi phiền não. Phiền não tức là Bồ-đề: khi quý vị đoạn trừ được phiền não thì trí huệ liền sinh khởi. Nếu phiền não còn ở nơi thân tâm, thì trí huệ không thể hiển lộ. Người có trí huệ, cho dù phiền não đến, cũng tự mình có thể giải quyết. Khi đạt đến mức ấy, quý vị sẽ nhìn thấy được tâm mình – và nhận ra rằng Phật tánh vốn ở ngay nơi đây, ở ngay trong tâm mình.  Chỉ khi không còn phiền não, quý vị mới có thể thấy được bản tâm; người còn phiền não thì không thể thấy được tâm mình. Người có phiền não, nhìn việc gì cũng cho rằng mình đúng.

Hiện nay có người cho rằng mình đã học được một ít Phật pháp, đọc qua vài quyển kinh sách liền tự cho mình là hơn người. Sư phụ nói với mọi người một đạo lý: làm người, thà kết bạn với một người đoan chính, tức là người ngay thẳng, dù không biết chữ cũng được, còn hơn kết bạn với một kẻ tà tâm, dù đọc thuộc muôn quyển sách. Tự cho mình hiểu hết mọi điều, lại lấy kinh Phật ra để công kích người khác, bản thân hành vi ấy đã là tạo nghiệp, là lỗi lầm nghiêm trọng. Lấy những lý luận khác nhau trong kinh Phật được thuyết giảng ở những thời kỳ khác nhau, để công kích pháp môn xuất hiện trong thời Mạt pháp, thì cũng giống như một nhà toán học thời xưa lại chê trách nhà toán học thời nay không hiểu toán học. Làm như vậy chính là khinh mạn kinh Phật, là mê muội. Vì thế Sư phụ nói: thà kết bạn với một người đoan chính không biết chữ, còn hơn kết bạn với một kẻ tà tâm đọc thuộc muôn quyển sách.

Hãy xa rời mùi vị của tội lỗi, vì đời người vốn là nếm trải đủ thứ mùi vị đắng cay. Chúng ta phải tránh xa cái vị đắng của tội lỗi, tức là phải tránh xa điều ác. Vừa ngửi thấy một chút mùi vị ấy liền rời đi: “À, họ sắp làm việc xấu rồi, mình phải tránh xa.” Người này tư tưởng đã lệch lạc, thì mình cũng phải rời xa. Phải tránh xa mùi vị của tội lỗi. Phải biết đến mùi vị của sự tịch tĩnh, đó là khi một người rất an tĩnh, biết giữ tâm, biết nhẫn nại. Mùi vị của tịch tĩnh chính là mùi vị của pháp lạc, là cảm giác pháp hỷ sung mãn, gọi là pháp lạc. Người đã nếm được mùi vị ấy thì sẽ không còn sợ hãi, đó gọi là “vô khủng bố”. Bởi vì khi đã xa lìa sợ hãi, xa lìa tội lỗi, thì chính là người ngay thẳng. Con người một khi tiếp xúc với tội lỗi, lập tức sẽ không còn vui vẻ nữa. Ví dụ như có người làm tổn hại quý vị một chút, quý vị liền không vui, không hoan hỷ, trong tâm nghĩ đến việc phải báo đáp lại người ấy. Như vậy là quý vị đã tiến gần đến sự sợ hãi rồi. Bởi vì khi quý vị dùng thủ đoạn để báo phục người khác, tiếp theo đó trong tâm sẽ sinh ra lo lắng, sợ người ta trả thù lại mình. Chỉ khi nào xa lìa sợ hãi thì mới đạt được trạng thái vô úy, tức là “vô khủng bố cố”.

Cầu chân bất cầu tự. Việc gì cũng phải tìm cái chân thật, không nên chạy theo cái tương tự bên ngoài. Chân thật tăng trí huệ, giả dối tăng ngu si.

Chuyên mục