Bạch Thoại Phật Pháp - Bộ 12 Quyển - Quyển 2

Bạch Thoại Phật Pháp - Bộ 12 Quyển - Quyển 2

Tập 42. Vận dụng trí huệ và đức năng để điều hòa, điều nhu tâm tịch tĩnh

Bộ 12 Quyển - Quyển 2 25 Th06 2026

42. Vận dụng trí huệ và đức năng để điều hòa, điều nhu tâm tịch tĩnh

QUYỂN 2 – TẬP 42

VẬN DỤNG TRÍ HUỆ VÀ ĐỨC NĂNG ĐỂ ĐIỀU HÒA, ĐIỀU NHU TÂM TỊCH TĨNH

(

运用智慧德能,调节调柔寂静

)

Nếu không trân quý sinh mệnh, tức là đang lãng phí sinh mệnh. Rất đơn giản: nếu quý vị không trân quý công đức, tức là đang lãng phí công đức. Đợi đến khi quý vị cần công đức, thì sẽ không còn công đức nữa, cũng giống như rất nhiều người trong gia đình không có tiền, là vì bình thường không biết tích lũy.

Hôm nay tiếp tục giảng cho mọi người về thần thông lực. Con người ngày nay không phải chỉ đơn giản nghe kể một câu chuyện chân thật, kỳ diệu xảy ra trong đời sống mà lập tức tiếp nhận sự tồn tại của sự việc ấy. Bởi vì hiện nay trên thế gian có quá nhiều điều giả dối, lời nói dối đã tràn lan khắp nơi, cho nên nhất định phải dùng thần thông lực để khuyên dẫn chúng sinh học Phật, niệm kinh. Một người có thần thông lực, nơi tự thân có thể hiển hiện trăm loại thân tướng; tức là khi một người thừa nguyện tái lai mà có thần thông lực, thì có thể hiển hiện ra rất nhiều pháp thân.

Dĩ nhiên, thần thông lực cũng được phân thành nhiều loại. Ví dụ, có người có âm dương nhãn, có thể thông quỷ thần, thông suốt hai cõi địa phủ và nhân gian. Còn Sư phụ có Pháp thân, là thần thông lực của Bồ Tát, có thể thông suốt Thiên – Địa– Nhân, cũng có thể biết rõ nhân quả ba đời. Loại thần thông lực này có trăm loại thân tướng, tức là thân thể và tướng mạo sai khác. Giống như khi Sư phụ thường đến trong giấc mộng của người khác để cứu độ, có lúc mặc đạo bào, có lúc mặc âu phục, có lúc mặc pháp y của người xuất gia, v.v… đó chính là trăm loại thân tướng. Xung quanh mỗi một hóa thân lại hiện ra trăm loại thân tướng; tức là mỗi khi một vị Pháp thân xuất hiện, sẽ có gần trăm vị đệ tử trang nghiêm vây quanh hộ pháp. Tuy nhiên, những đệ tử ấy không nhất định đều là các vị, vì bất cứ vị hộ pháp nào, bất cứ ai có duyên với Sư phụ, hoặc bất cứ ai từ trên Trời xuống để hộ pháp, đều có đủ công năng này để hộ trì, đó là những vị Bồ Tát Ma Ha Tát tự hiển hiện. Khi một vị Pháp thân xuất ra ngoài, trong lúc cứu độ chúng sinh, sẽ có gần trăm vị đệ tử vây quanh hộ pháp (những đệ tử này bao gồm tất cả các vị đệ tử trong đời này và các đời trước). Tất cả những ai có duyên với Sư phụ đều tụ hội bên cạnh để hộ pháp. Hơn nữa, không phải họ tự mình muốn đi hộ pháp, bản thân họ hoàn toàn không hay biết; đó là sự tự hiển hiện từ nguyện lực của Bồ Tát, chư vị Bồ Tát Ma Ha Tát. Trên thực tế, khi Pháp thân của Sư phụ xuất ra ngoài để cứu người, thì gần trăm vị đệ tử ấy đều hóa hiện thành Bồ Tát. Ví dụ, khi Sư phụ khai pháp hội giảng pháp, tất cả các đệ tử đứng ở cửa hoặc bên cạnh Sư phụ đều là Bồ Tát đang hộ pháp.

Nếu muốn tu thành thân Bồ Tát, đạt được Pháp thân hoặc thần thông lực (tức pháp lực), cần ghi nhớ vài điểm căn bản sau:

1. Bồ Tát không thấy lỗi người. Bồ Tát vĩnh viễn không nhìn thấy lỗi lầm hay sai sót của người khác. Trước hết, hãy lấy điểm này để tự soi lại chính mình: quý vị có ai thật sự không nhìn thấy khuyết điểm và lỗi lầm của người khác không? Bồ Tát là vĩnh viễn không thấy khuyết điểm và lỗi lầm của người khác. Còn Sư phụ khi giúp quý vị khai ngộ thì lại khác. Vì nhằm cứu độ quý vị, nên buộc phải chỉ ra tất cả những khuyết điểm và lỗi lầm của quý vị, để quý vị hiểu rõ đạo lý, rồi nghiêm túc sửa đổi và cải quá. Học theo Bồ Tát là không được nhìn lỗi người, không thấy lỗi người mà chỉ thấy lỗi mình. “Không thấy lỗi người, chỉ thấy lỗi mình” nghĩa là lấy tiêu chuẩn của Bồ Tát để yêu cầu chính mình: vĩnh viễn không nhìn thấy lỗi lầm của người khác, mà luôn nhìn thấy lỗi lầm của bản thân, tất cả đều quy về chính mình. Ở nhân gian, đừng bàn luận đúng sai của người khác. Mình làm sai thì chính là sai; luôn luôn tự nhận lỗi về mình. Bởi vì thế gian này vốn là không, là giả, là vô thường; không có tuyệt đối đúng hay sai, chỉ có nhân và quả. Không có “ta đúng”, chỉ có “ta cần sửa mình”. Nghĩ được như vậy mới dần dần tiếp cận cảnh giới của Bồ Tát.

2. Chỉ lo cày cấy, không tính đến thu hoạch, đó mới là cảnh giới của Bồ Tát. Bồ Tát chỉ chuyên tâm gieo trồng, chỉ chuyên tâm làm công đức, chưa từng nghĩ rằng: hôm nay gieo nhân thiện này, về sau sẽ được quả báo gì. Quý vị chỉ cần tinh tấn niệm kinh, hết lòng làm công đức, thì làm gì có đạo lý không có quả báo? Bởi vì định luật nhân quả là vĩnh viễn không thay đổi. Hôm nay làm việc thiện, gieo nhân lành, tương lai nhất định sẽ kết thành quả tốt. Còn người vừa mới bỏ ra đã lập tức mong được nhận lại, đó là tâm lượng nhỏ hẹp của phàm phu. Làm gì có chuyện chưa hề bỏ ra mà đã muốn thu về? Giống như có người hỏi: “Lư Đài Trưởng, con theo Thầy tu hành niệm kinh, liệu con có được tốt lên không?” Chỉ riêng câu nói ấy cũng đủ cho thấy niềm tin căn bản còn chưa vững. Ngay cả tín tâm tối thiểu còn chưa có, thì làm sao có thể tu tốt tâm mình được?

3. Vô tâm. Học theo Bồ Tát, một trong những điểm căn bản là vô tâm. Vô tâm ở đây không phải là không có tâm, mà là không còn tâm chấp trước của phàm phu. Vô tâm tức là không sân hận, không phiền não, không chướng ngại; bởi vì cái tâm chấp ngã, chấp pháp đã được buông xả. Khi không còn sự chấp trước ấy, nội tâm tự nhiên thanh thản và tự tại. Giống như người đời thường nói “không tim không phổi”, ý chỉ không còn bị ràng buộc bởi cảm xúc nhỏ nhen. Nhưng Bồ Tát không phải là thật sự không có tâm. Bồ Tát là lấy tâm của chúng sinh làm tâm mình. Tâm của chúng sinh chính là tâm của Bồ Tát. Vì luôn nghĩ cho chúng sinh, nên không còn cái tâm vị kỷ riêng tư; do đó tâm ấy vô ngại, không chướng ngăn.Từng niệm từng niệm đều nghĩ cách cứu độ chúng sinh thoát khỏi biển khổ. Bồ Tát luôn nghĩ cho người khác, không nghĩ cho riêng mình, nên gọi là “vô tâm”. Chính vì không còn tâm vị ngã nên tâm ấy không còn ngăn ngại, không còn chướng ngại, luôn tự tại, luôn thông suốt. Nỗi khổ của chúng sinh chính là nỗi khổ của Sư phụ. Hiện nay, trong từng niệm từng niệm, Sư phụ luôn nghĩ đến việc làm sao cứu độ chúng sinh thoát khỏi biển khổ. Bồ Tát lấy tâm của chúng sinh làm tâm mình, vĩnh viễn nghĩ cho người khác, không còn tâm vị kỷ riêng tư. Vì thế, Bồ Tát là vô ngại, không chướng ngại; tâm ấy luôn thông suốt, tự tại, không bị ngăn che.

Mục đích học theo Bồ Tát của chúng ta rất đơn giản: chính là từng bước hiểu rõ sự khác biệt giữa Bồ Tát và con người phàm phu ở chỗ nào. Vì sao chúng ta là người, mà khi cảnh giới được nâng cao thì có thể trở thành Bồ Tát? Vì sao chúng ta chưa đạt đến cảnh giới của Bồ Tát? Vì vậy, cần phải hiểu rõ cảnh giới của từng địa vị Bồ Tát. Chỉ có như thế, chúng ta mới có thể y theo từng cảnh giới ấy mà tu dưỡng, học tập và từng bước tiến lên.

Trước hết phải chánh tu cảnh giới, học theo cảnh giới của Bồ Tát, giữ cho tâm địa được thanh tịnh. Trước khi học theo Bồ Tát, cần thanh tịnh tự tâm trước, tức là làm cho tâm địa trong sạch, khiến nội tâm an tĩnh; bởi vì chỉ khi tâm tĩnh lặng mới có thể khai phát trí huệ. Xã hội hiện nay được gọi là thời đại quang tử; trước kia là thời đại nguyên tử. Bồ Tát dùng ánh sáng để chiếu soi chúng ta, ban cho chúng ta linh cảm; ý niệm của Bồ Tát đều được truyền đi như ánh sáng. Mọi người đều biết: chỉ có ánh sáng mới có thể chiếu rọi khiến nội tâm sáng tỏ; chỉ có ánh sáng mới giúp chúng ta minh bạch; chỉ có ánh sáng mới giúp chúng ta minh tâm kiến tánh. Giống như khi mặt trời xuất hiện, nội tâm tràn đầy hoan hỷ; còn khi bóng tối bao phủ, tâm dễ rơi vào u ám. Vì vậy, chúng ta thắp đèn cho sáng, để thấy rõ thế giới vốn luôn sáng tỏ. Khi hướng đến cảnh giới quang minh, Bồ Tát vận dụng nhiều diệu pháp và pháp môn khác nhau để phổ độ chúng sinh. Muốn đạt đến cảnh giới quang minh, cần có diệu pháp và phương tiện thích hợp. Trong thời mạt pháp, phải có pháp lực mới có thể cứu độ hữu tình; đồng thời cần khai phát trí huệ viên mãn, vận dụng các pháp môn và phương tiện thiện xảo để giúp chúng sinh mở bày trí huệ viên dung.

Tiếp theo, xin giảng về việc tu tâm và tu hành cần vận dụng nhiều phương pháp khác nhau. Tu tâm và tu hành không thể rời rạc; cần có phương pháp thích hợp và sự vận dụng đúng đắn. Phương pháp tốt nhất chính là dùng hết trí huệ và năng lực của chính mình để điều chỉnh, điều nhu và làm cho lắng dịu. Phải đem tâm vọng động của mình, dùng trí huệ và năng lực mà điều chỉnh, điều nhu, khiến nó dần dần trở nên tịch tĩnh.

Cái tâm này thật sự rất khó điều phục: chỉ cần nhìn thấy một chút điều không vừa ý liền sinh vọng động. Vọng động tức là tùy tiện dao động, loạn khởi. Tâm vọng động là bất luận nhìn thấy điều gì cũng khởi lên sự xao động. Ví dụ, thấy dưới đất có người đánh rơi một trăm đồng, tâm liền khởi lên ý nghĩ: “Có nên nhặt không?”, đó chính là vọng động. Những điều không nên nhìn, vì sao lại nhìn? Những điều không nên nghĩ, vì sao lại nghĩ? Những việc không phải việc của mình, vì sao lại làm? Phiền não của con người chính từ đó mà sinh khởi: nghe một chút chuyện này, nhìn một chút chuyện kia, tâm luôn bị lôi kéo, dao động không ngừng. Nếu người ta nói xấu quý vị sau lưng mà quý vị không nghe thấy, quý vị vẫn vui vẻ như thường; nhưng một khi nghe được rồi, phiền não liền sinh khởi. Người ta nói sau lưng, tức là vốn không phải điều nên để quý vị nghe. Khổng Tử dạy: “Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động” (không hợp lễ thì chớ nhìn, không hợp lễ thì chớ nghe, không hợp lễ thì chớ nói, không hợp lễ thì chớ làm). Điều không nên nghe, vì sao còn muốn nghe? Vốn dĩ tâm đang an vui, nhưng khi tai tiếp nhận những lời không nên nghe, phiền não liền theo đó mà sinh khởi.

Mọi người nên suy nghĩ cho thật kỹ: chúng ta ở trên thế gian này phải học Phật, học Pháp như thế nào? Phải điều chỉnh và làm cho tâm mình trở nên nhu hòa, điều thuận ra sao? Tâm này đừng để vọng động nữa. Chỉ khi giữ được tâm thì mới có thể tu tốt. Nếu tâm giữ không vững, lại sinh vọng động thì phải làm sao? Chính là phải điều nhu, điều thuận, khiến tâm dần dần trở nên tịch tĩnh, tức là làm cho tâm mình an lặng lại, đối với mọi việc đều không chấp trước, không xem nặng. Sư phụ dạy rằng trong xã hội này, phải giữ cho mình từng giây từng phút đều an tường. Nếu mỗi một giây đều có thể an tường như vậy, thì sẽ giữ được tâm tịch tĩnh. Người có thể giữ được sự an tường trong từng giây từng phút, đó là người có tu dưỡng rất sâu. Ý niệm của người ấy vô cùng cao thượng, quan niệm cũng cao thượng; bởi vì họ đã nhìn thấu mọi sự, tâm hết sức bình lặng, trên thế gian không có điều gì có thể khiến tâm họ dao động. Chỉ khi tâm đã an tĩnh, mới có thể khắc phục những tập khí nơi tự thân như tham, sân, si. Phải chế phục được tâm vọng động của chính mình; phải loại bỏ những lý tưởng hão huyền không phù hợp với thực tế. Những nguyện vọng không thể đạt được, không tương ưng với nhân duyên, chính là “phi nguyện” (nguyện không thực tế).

Tâm từ bi chính là tâm nhu hòa. Người có tâm từ bi thì tâm mới có thể nhu hòa. Khi một người nói năng mềm mỏng, người ấy ắt hẳn có tâm từ bi. Tâm từ bi phải nhu hòa, rồi dần dần được thăng hoa, tức là khiến tâm từ bi ngày càng rộng lớn. Tâm lượng rộng lớn thì mới có thể bao dung và tha thứ cho người khác; đó là đem tâm hẹp hòi của mình mà mở rộng ra. Người suốt ngày chỉ biết nghĩ cho bản thân mình chính là người có tâm lượng nhỏ hẹp. Người tu tâm là tu nơi tâm địa. Tâm địa phải thiện lương, phải nhu nhuyễn, khiêm cung, khiêm hạ, tức là tự đặt mình xuống thấp hơn một chút. Phải biết tùy thuận, tức là tùy duyên mà an nhiên; bất luận việc gì đến, cũng thuận theo nhân duyên mà ứng xử. Phải “bất trọc”, nghĩa là tâm không để bị ô nhiễm, không bị nhiễm trước. Phải thuần thiện. Thiện lương vẫn chưa đủ, còn phải đạt đến thuần thiện, nghĩa là phải hết sức thanh sạch, là sự thiện lành tinh thuần, chứ không phải thứ thiện lương chỉ ở bề ngoài. Phải nhuận trạch, phải viên dung, phải có khả năng bao dung người khác. Thân thể con người có đến tám mươi phần trăm là nước cấu thành, vì vậy nhất định phải có “thủy tính”, phải nhu hòa, phải thấm nhuần, phải làm cho người khác cảm nhận được sự dịu mát và dung chứa. Tiếp đến là tịch tĩnh. Tâm phải an định, không được vọng động. Tâm lượng phải rộng rãi, phải quảng đại, phải kiên cố; không được dao động, không được bất định. Phải “minh thịnh”, tức là sáng suốt và quảng đại. Nghĩa là sau khi đã minh bạch rồi thì sự rộng lớn mới có ý nghĩa; không phải chỉ nói tâm lượng lớn là đủ. “Minh thịnh” là khi quý vị thật sự hiểu rõ, từ nơi sự minh bạch ấy mà hiển lộ ra sự quảng đại và thịnh lớn, như vậy mới là có giá trị chân thật. Sau cùng, phải thanh tịnh, phải bình đẳng, phải vô tướng.

Chuyên mục