Bạch Thoại Phật Pháp - Bộ 12 Quyển - Quyển 2

Bạch Thoại Phật Pháp - Bộ 12 Quyển - Quyển 2

Tập 41. Cảnh giới học Phật, hiểu rõ nhân quả, năng xả tức Không

Bộ 12 Quyển - Quyển 2 25 Th06 2026

41. Cảnh giới học Phật, hiểu rõ nhân quả, năng xả tức Không

QUYỂN 2 – TẬP 41

CẢNH GIỚI HỌC PHẬT, HIỂU RÕ NHÂN QUẢ, NĂNG XẢ TỨC KHÔNG

(

学佛境界,懂得因果,能舍即空

)

Một người ngay đến tâm bền bỉ căn bản còn không có, thì không thể tu tốt được. Tu hành nhất định phải có trí huệ. Phải dùng trí huệ để phân biệt: con đường này có đúng hay không? Pháp môn này có phù hợp hay không? Tất cả đều cần dùng trí huệ để quán sát và nhận định. Nếu không có trí huệ, nghe pháp này một chút, nghe pháp kia một chút, dao động theo lời người khác, người như vậy có thể làm Bồ Tát được chăng? Có thể tu thành tựu được chăng? Ngay cả làm một người bình thường cho trọn vẹn cũng chưa làm được.

Phải an trụ trong giới hạnh thanh tịnh, dưới sự điều phục của Thập thiện nghiệp mà nghiêm trì giới luật. “Giới” tức là giới luật. Người học Phật phải lấy giới làm nền tảng căn bản. Trong quá trình hành trì giới hạnh, cần nương vào Thập thiện nghiệp để điều phục thân tâm. Nghĩa là trong sự giữ giới không gián đoạn ấy, phải siêng năng làm các việc thiện, tích lũy công đức, dùng thiện nghiệp để điều phục và thanh lọc tự tâm, khiến tâm dần dần trở nên thanh tịnh. Chỉ có như vậy mới có thể tiến đến viên mãn. Sau khi đã nghiêm trì giới luật, mới có thể lấy Thập thiện nghiệp làm phương tiện điều phục, khiến giới hạnh ngày càng kiên cố và thanh tịnh hơn. Sư phụ vừa giảng về “tịch tĩnh” và “thuần thiện”. Chỉ cần quý vị y theo giới hạnh mà Sư phụ chỉ dạy để điều phục tự thân, thì nội tâm sẽ ngày càng tịch tĩnh, ngày càng thanh tịnh, ngày càng thuần thiện. Khi trong tâm không còn nghiệp chướng cấu nhiễm, không còn các niệm bất thiện, thì tâm tự nhiên an định và bình hòa. Ngược lại, khi khởi sinh ác niệm, còn tham, sân, si, thì tâm không thể an tĩnh, cũng không thể đạt đến cảnh giới tịch tĩnh của Bồ Tát.

Phải tu tập để thanh tịnh hóa định lực. Nghĩa là sau khi trì giới, cần phải phát triển định lực, và dùng định lực ấy làm nền tảng cho sự tu hành. Ví như hôm nay có người mắng nhiếc bạn. Quý vị có thể giữ được sự an định, tuy trong tâm còn thoáng khởi chút sân ý, nhưng vẫn không mắng trả. Điều ấy chưa phải là thanh tịnh chân chính, mà chỉ là sự tạm thời kềm chế và đè nén: “Ta không mắng lại, mặc cho người mắng.” Thế nào mới là định lực thuần tịnh, thanh sạch? Là khi người khác mắng quý vị, trong tâm không những không khởi sân, mà còn sinh lòng thương xót, nghĩ rằng: “Người này thật đáng thương. Không chuyên tâm tu học, niệm kinh hành thiện, lại còn tạo khẩu nghiệp mắng người. Nguyện cầu Quán Thế Âm Bồ Tát từ bi gia hộ cho họ, xin rộng lòng tha thứ cho họ. Mong họ sớm tỉnh ngộ, không còn hành xử trong vô minh, biết tu tâm sửa mình, biết chuyển hóa chính mình.” Đó mới gọi là định lực thuần tịnh và thanh sạch. Không phải là đem sân giận dồn nén trong lòng; bởi định lực do đè nén mà có rốt cuộc sẽ có ngày bộc phát.

Học theo Bồ Tát, cần khai mở một phần thần thông lực. Khi ở nhân gian mà tu đạt đến cảnh giới của Bồ Tát, tự nhiên sẽ phát sinh thần thông lực. Hiện nay là thời mạt pháp, cần nương vào thần thông lực để cứu độ chúng sinh. Bởi vì tư tưởng con người ngày càng nhiễm ô, chấp trước; nếu không dùng một phần thần thông lực khiến họ thấu hiểu nhân quả, thì họ khó có thể tin nhận, cũng khó sinh khởi tín tâm đối với Phật pháp. Đó chính là nguyên nhân vì sao vẫn còn nhiều người tạo ác mà không tin Phật. Khi một người tu hành đạt đến cảnh giới của Bồ Tát, ắt sẽ có thần thông lực. Tuy thân còn ở nhân gian, nhưng cảnh giới tâm linh đã tương ưng với cảnh giới của Bồ Tát. Chỉ cần cảnh giới an trụ nơi Bồ Tát, thì người ấy chính là Bồ Tát, tự nhiên đầy đủ thần thông lực. Ví như khi ở nhà, ăn mặc tùy tiện, thân tâm cũng có phần buông thả. Nhưng khi tham dự yến tiệc hay nghi lễ trang trọng, liền ăn mặc chỉnh tề, cử chỉ đoan nghiêm, ứng xử lễ độ. Lúc ấy, quý vị đã là người có tu dưỡng, cảnh giới cũng bước vào tầng thứ cao hơn. Trong hoàn cảnh như vậy, quý vị còn có thể nói những lời thấp kém nữa sao? Khi hành vi và cảnh giới đạt đến một mức độ nhất định, người khác tự nhiên sinh tâm kính trọng.

Phải biết khai mở thần thông lực sâu rộng của Bồ Tát, hơn nữa phải dùng thần thông lực ấy để tiếp dẫn vô số chúng sinh tin Phật và nghe Pháp. Thần thông lực được ban cho quý vị là để quý vị tiếp dẫn vô số chúng sinh học Phật, tin Phật và nghe Pháp. Hiện nay, Sư phụ có phải đang cứu độ chúng sinh, giáo hóa họ học Phật, tin Phật và nghe Phật pháp hay không? Nếu công năng này chỉ bị sử dụng một cách ích kỷ cho riêng bản thân, mà không dùng để lợi ích chúng sinh, thì công năng ấy sẽ dần dần tiêu giảm. Công năng của Sư phụ hiện nay ngày càng rộng lớn, chính là vì tâm từ bi của Sư phụ, vì tâm thiết tha cứu độ chúng sinh, và tâm ấy không ngừng mở rộng. Quý vị hãy suy nghĩ cho kỹ, nếu quý vị làm càng nhiều việc lợi ích chúng sinh, thì đồng thời quý vị cũng sẽ được càng nhiều. Đây là thiên lý, là định luật nhân quả. Hôm nay, Bồ Tát có thể hóa hiện thành bất cứ hình tướng nào để cứu độ chúng sinh, cũng có thể đến trong giấc mộng của quý vị để cứu độ quý vị, v.v… Tất cả những năng lượng ấy đều có thể hiển hiện, đều do nguyện lực mà thành tựu. Nguyện lực vô cùng quan trọng. Có rất nhiều người mắc bệnh ung thư nói rằng: “Tôi nhất định phải sống”, và nhờ ý chí cùng nguyện lực mạnh mẽ ấy mà họ có thể tiếp tục sống. Thật ra, ung thư cũng là một loại “ma”, là bệnh ma. Ma chính là nghiệp chướng.

Vô lượng tự tại độ chúng sinh, nghĩa là quý vị phải có sự tự tại vô lượng vô biên. Có một vị Phật gọi là Tự Tại Phật. “Tự tại” nghĩa là: ta muốn cứu người thế nào thì cứu thế ấy; ta có thể cứu được bao nhiêu thì tận hết thảy sức lực mà cứu bấy nhiêu. Chỉ cần cảm nhận rằng duyên giữa quý vị và ta chưa đến, thì ta có thể tạm thời không cứu. Ở nhân gian học Phật, phải văn tán nhi bất hỷ (nghe lời tán thán mà không sinh vui mừng), khi nghe người khác khen ngợi mình cũng không nên hoan hỷ đắc ý, mà phải càng thêm tinh tấn. Phải văn báng nhi bất ưu (nghe lời phỉ báng mà không sinh lo buồn), khi người khác nói xấu mình, cũng không khởi tâm ưu não. Phải hủy dự nhi bất động (trước sự hủy báng hay khen chê mà tâm không dao động), cho dù người ta muốn hủy hoại thanh danh của quý vị, quý vị cũng như không có việc gì xảy ra. Ví như có người nói quý vị trộm cắp, quý vị vẫn bất động, bởi vì quý vị không hề trộm, quý vị trong ngoài như một.

Mạc hành tâm thượng quá bất khứ chi sự (chớ làm những việc mà lương tâm mình không thể vượt qua, không thể chấp nhận được). Nghĩa là phải dùng lương tâm để làm việc. Trước khi làm bất cứ việc gì, hãy tự hỏi lòng mình, việc này có thể “qua được” hay không? Nếu lương tâm cảm thấy không ổn, không yên, không thể chấp nhận, thì nhất định không nên làm. Mạc manh sự thượng hành bất khứ chi tâm (chớ khởi tâm đối với những việc trên đời vốn không thể thực hành, không thể thành tựu). Nếu một việc rõ ràng không thể làm được, không thể thành tựu, thì ngay từ đầu cũng đừng khởi tâm nghĩ đến. Những việc ở thế gian vốn không thể thực hiện, thì ngay cả ý niệm cũng không nên sinh khởi. Học Phật tu tâm nhất định phải hạ mình, đừng cho rằng bản thân rất tài giỏi, rất có năng lực. Phải luôn ghi nhớ: Sơn ngoại hữu sơn, thiên ngoại hữu thiên (ngoài núi còn có núi cao hơn, ngoài trời còn có trời cao hơn).

Phải biết rằng người luôn xuyên tạc ý tốt của người khác thì là người thật sự khó mà cứu vãn. Người ta nói với quý vị một câu, mà quý vị luôn cố tình bẻ cong, hiểu sai ý của họ, thì người như vậy thật sự là khó mà cứu vãn. Ví dụ, có người nói: “Quý vị nên cẩn thận giữ gìn sức khỏe.” Người kia lập tức đáp lại: “Ý anh là gì? Anh muốn hại tôi sao?” Đó chính là xuyên tạc ý tốt của người khác. Người ta vì muốn tốt cho mình, mà mình lại đi nghi ngờ họ, người như vậy là khó mà cứu vãn. Phải dùng phương pháp phản chứng. Trước tiên hãy cưỡng chế chính mình tin tưởng và khẳng định ý kiến của người khác là thiện ý, sau đó mới suy nghĩ lại. Đó mới gọi là biết làm người. Khi quý vị nghi ngờ người khác có ý không tốt với mình, sau khi nghe họ nói một câu, hãy dùng phương pháp phản chứng: trước hết nhắc mình tin rằng lời họ nói là đúng, là thiện ý, rồi sau đó mới suy xét. Đừng dùng lối suy nghĩ chủ quan của mình để phán đoán đúng sai của người khác. Học Phật và làm người vốn là một, không phải hai, không thể tách rời. Nếu bình thường làm người rất xấu, miệng mỗi ngày niệm “A Di Đà Phật”, thì đến khi mạng chung có thể vãng sinh về Tây Phương Cực Lạc Thế Giới được không? Điều ấy tuyệt đối không thể.

Ở nhân gian, phải học cách làm cho tâm mình trở nên “Không”. Thế nào là “Không”? Có thể xả thì nên xả, điều khó xả cũng phải học cách buông xả. Nhìn thấu, buông xuống, đó chính là “Không”. “Không” là sự tự tại và an tường. Rất nhiều chuyện chỉ cần một câu “xin lỗi” là có thể hóa giải, nhưng có người vì không buông được sĩ diện mà không chịu nói. Thật ra, khi đã buông được rồi, thì trong tâm liền tự tại an nhiên, chính là bình an và hòa thuận. Bình an là phúc. Hòa thuận là đức. Hòa thuận sinh ra niềm vui và sự hoan hỷ. Học Phật là phải học cho được sự bình an và hòa thuận trong tâm, đó chính là tố chất tâm lý. Một người không có tố chất tâm lý vững vàng thì rất khó học Phật cho tốt.

Ở nhân gian cũng có Bồ Tát. Người nào có thể thoát ly sinh tử, nhìn thấu cõi đời, không tham danh lợi, thì chính là Bồ Tát.

Trong cõi nhân gian này có đủ mọi đạo, chỉ là xem quý vị chọn đi con đường nào mà thôi.

Chuyên mục