Bạch Thoại Phật Pháp - Bộ 12 Quyển - Quyển 2

Bạch Thoại Phật Pháp - Bộ 12 Quyển - Quyển 2

Tập 40. Phát Bồ-đề tâm, viên mãn phát tam tâm

Bộ 12 Quyển - Quyển 2 25 Th06 2026

40. Phát Bồ-đề tâm, viên mãn phát tam tâm

QUYỂN 2 – TẬP 40

PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, VIÊN MÃN PHÁT TAM TÂM

(

发菩提心,圆发三心

)

Tiếp theo, giảng về phương pháp phát khởi Bồ-đề tâm. Nhiều người chỉ biết nói rằng: “Tôi nguyện phát Bồ-đề tâm”, nhưng phát như thế nào mới đúng pháp?

Thứ nhất, phải học cách quan tâm đến tất cả chúng sinh, phải biết quan tâm đến từng người một. “Nhân nịch ngã nịch” nghĩa là khi thấy người khác rơi xuống nước, phải cảm nhận như chính mình đang rơi xuống nước vậy. “Nhân cơ kỷ cơ” nghĩa là khi thấy người khác đói khát, thiếu thốn, phải cảm nhận như chính mình đang đói khát vậy. “Lợi kỷ lợi nhân, đạt kỷ đạt nhân” nghĩa là bất luận làm việc gì, đều phải có thể thông đạt, hiểu lý lẽ, có thể giúp đỡ người khác. Giúp mình cũng chính là giúp người, giúp người cũng chính là giúp mình.

Thứ hai, phải bao dung tất cả chúng sinh. Khi người khác làm sai, phải có thể bao dung họ, không nên oán hận. “Dĩ trách nhân chi tâm trách kỷ” nghĩa là khi muốn trách người, trước hết phải dùng tâm ấy mà tự trách mình; trách người, trước hết phải trách mình. “Dĩ thứ kỷ chi tâm thứ nhân” nghĩa là lấy tâm tha thứ đối với chính mình mà tha thứ cho người khác. Nói theo cách hiện đại, đó là biết đặt mình vào vị trí của người khác. Một người phải biết khoan dung; không biết khoan dung chính là thiếu trí huệ. Ai cũng có lúc phạm sai lầm. Khi quý vị biết bao dung người khác, người khác mới có thể bao dung lại quý vị, đó gọi là sự hồi báo theo nhân quả.

Thứ ba, học cách khắc kỷ. Phải thường xuyên quán xét lỗi lầm của chính mình, học quên mình, học cách tự chế ước bản thân. Thường xuyên nghĩ lại những điều mình đã làm chưa đúng, thì trong tâm sẽ không còn oán trách hay buồn khổ. Học quên mình chính là học buông cái “ta”. Hãy thường nghĩ rằng mình không có gì đặc biệt, mình còn yếu kém; mọi thành tựu đều nương nhờ đại chúng, nếu không có mọi người thì bản thân cũng không thể làm tốt được. Không nhớ nghĩ lỗi lầm của người khác, không nhắc lại những điều sai trái họ đã làm trong quá khứ. “Vô ý, vô tất” nghĩa là không khởi tâm cưỡng cầu, không ép buộc bản thân phải nhất định làm một việc nào đó; những ý niệm không nên có thì chớ để chúng sinh khởi. “Vô cố, vô ngã” nghĩa là không cố chấp, không chấp giữ cái “ta”.

Thứ tư, làm một người tu tâm, người phát Bồ Đề tâm, phải biết đem niềm tin đến cho người khác, đem niềm hoan hỷ đến cho người khác. Phải khiến người khác sinh tâm hoan hỷ, khiến người khác tăng trưởng tín tâm — làm được như vậy chính là hạnh của Bồ Tát. Dùng ngôn ngữ bố thí để đem lại niềm tin cho người, khiến người nghe pháp mà pháp hỷ sung mãn,đó chính là học theo Bồ Tát. Nên nói nhiều lời thiện lành, bớt nói lời tiêu cực; có thể nói thêm một câu tốt đẹp, thì sẽ bớt đi một câu không thiện. Lấy lòng chân thành mà đối đãi với người, đem thiện pháp trao tặng cho người, nhiệt tâm giúp đỡ người, thành tựu điều tốt đẹp cho người khác. Thường xuyên dùng tâm chân thành để giúp người và thành tựu điều thiện cho người, đó chính là hành trì Bồ Đề tâm.

Viên mãn phát tam tâm. Người học Phật phải từ trong tâm mình phát khởi ba loại tâm: 1. Tâm chí thành. 2. Tâm thâm sâu. 3. Tâm hồi hướng phát nguyện.

Tâm chí thành là tâm chân thật không hư ngụy, hoàn toàn chân thật, không chút giả dối. Lời nói đều chân thực, không có bất kỳ sự ngụy trang nào. Phải dùng tâm chân thành không hư ngụy ấy để đối đãi với tất cả chúng sinh.

Thâm tâm là lấy tâm vô duyên từ thương xót hết thảy chúng sinh; dùng tâm sâu xa ấy để giúp đỡ người khác.

Tâm hồi hướng phát nguyện là tâm của người học Phật, là một tâm niệm cao thượng. Tâm hồi hướng phát nguyện cần ghi nhớ hai điều:

Thứ nhất, vạn thiện đồng quy – hết thảy các thiện hạnh đã làm đều quy về một chỗ. Theo lời Sư phụ dạy, chính là quy về công đức; đem toàn bộ việc thiện lành hồi quy về công đức.

Thứ hai, phổ nguyện hữu tình – tự tâm phát nguyện độ hết thảy chúng sinh hữu tình. “Chúng sinh hữu tình” tức là những chúng sinh có tình thức.

Ở nhân gian, thế nào gọi là cát tường? Phàm những gì ở nhân gian vốn nên được, đáng được, thuộc phần của mình, ấy gọi là cát tường. Còn những gì vốn dĩ không nên được, không thuộc về mình, nhưng do cưỡng cầu mà đạt được, đó là không cát tường. Ở nhân gian, điều gì đáng để mình có, đáng để mình nhận, thì gọi là cát tường; còn điều không nên được mà vẫn cố cầu cho được, thì sau khi đạt được, ấy chính là điều không cát tường. Ví dụ như mua xổ số. Mỗi ngày đều đi cầu, mỗi ngày đều bỏ tiền ra mua. Trải qua mấy chục năm, số tiền đã tiêu hao không cần nói đến; đến cuối cùng, cho dù có trúng được, rất có thể lại bị người truy đuổi, thậm chí bị bắt cóc. Đó chính là: cái không nên được mà lại được, nên gọi là không cát tường. Đây là một khái niệm, một đạo lý, cũng là trí huệ của Bồ Tát. Mọi người nhất định phải ghi nhớ: làm người, những gì không nên được thì chớ nên truy cầu.

Thế nào gọi là đại cát tường chân chính? Hết thảy những gì nơi vạn sự vạn vật mà ta có thể thọ dụng một cách chính đáng, đó gọi là đại cát tường. “Thọ dụng” nghĩa là những điều có thể chân thật sử dụng, an nhiên hưởng dùng; là những gì thuộc về mình một cách hợp đạo lý, hợp nhân quả, ấy mới là đại cát tường. Ví như tiền bạc vốn dĩ không nên thuộc về mình, nhưng lại dùng thủ đoạn cướp đoạt, lừa gạt, trộm lấy; rồi sau đó bị pháp luật bắt giữ,  thử hỏi như vậy có phải là cát tường chăng?

Chuyên mục