Bạch Thoại Phật Pháp - Bộ 12 Quyển - Quyển 2

Bạch Thoại Phật Pháp - Bộ 12 Quyển - Quyển 2

Tập 21. Học theo hạnh “văn thanh cứu khổ” của Quán Thế Âm Bồ Tát, hoằng pháp độ sinh là pháp môn bất nhị

Bộ 12 Quyển - Quyển 2 25 Th06 2026

21. Học theo hạnh “văn thanh cứu khổ” của Quán Thế Âm Bồ Tát, hoằng pháp độ sinh là pháp môn bất nhị

QUYỂN 2 – TẬP 21

HỌC THEO HẠNH “VĂN THANH CỨU KHỔ” CỦA QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT, HOẰNG PHÁP ĐỘ SINH LÀ PHÁP MÔN BẤT NHỊ

(

学习观世音菩萨闻声苦,弘法救度众生不二法门

)

Chúng ta mỗi ngày trì niệm thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. Vậy nên niệm như thế nào cho đúng pháp? Danh xưng đầy đủ, chân chính là: “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quảng Đại Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.” Người bình thường thường niệm: “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát” hoặc “Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát.” Khi trì niệm thánh hiệu, trước hết nên bắt đầu bằng việc tụng kinh. Nghĩa là không chỉ đơn thuần xưng danh, mà nên tụng kinh trước, sau đó mới niệm thánh hiệu. Sư phụ hiện nay dạy quý vị một điều rất quan trọng: trong sinh hoạt thường ngày, tụng kinh kết hợp xưng niệm thánh hiệu sẽ tạo nên sự cảm ứng lớn lao tương hỗ lẫn nhau.

Vì vậy, khi quý vị gặp tai nạn hoặc hoạn nạn, nếu không kịp tụng các bộ kinh dài, chỉ cần xưng niệm thánh hiệu cũng được. Phải từ nơi nội tâm mà phát khởi lời cầu nguyện: “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, xin cứu con…” Nếu tình thế quá cấp bách, có thể trực tiếp gọi: “Quán Thế Âm Bồ Tát…” Bởi lòng từ bi của Ngài vô cùng sâu rộng, tâm cứu độ chúng sinh hết sức khẩn thiết; chỉ cần quý vị khởi một niệm xưng danh, lập tức sẽ có sự cảm ứng. Quý vị nhất định phải ghi nhớ: chỉ cần thành tâm cầu cứu, ắt sẽ được gia hộ. Vì Ngài là bậc “nghe tiếng kêu khổ mà cứu”, là vị Bồ Tát “có cầu tất ứng”. Do Ngài cùng chúng sinh trong cõi khổ nạn có túc duyên sâu dày, có lẽ trong nhiều đời trước quý vị đã từng lễ bái và cầu thỉnh. Nhân duyên ấy vốn đã sớm kết nối, nên chỉ cần khởi tâm cầu nguyện liền được linh ứng.

Lòng từ bi của chư Phật rộng lớn; trong phương diện cứu khổ cứu nạn nơi thế gian, Quán Thế Âm Bồ Tát là vị thay Phật rủ lòng từ mà cứu độ. Ngài tiêu biểu cho hạnh đại từ đại bi cứu giúp chúng sinh trong hàng chư Phật, chư Bồ Tát. Vì vậy, khi thật sự gặp khó khăn, dù cầu thỉnh vị Bồ Tát nào, cũng nên trước hết hướng tâm đến Quán Thế Âm Bồ Tát, bởi Ngài là bậc đại diện cho hạnh cứu khổ cứu nạn. Khi còn tại thế, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng khuyên chúng sinh nên cầu niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngài từng dạy rằng trong vô lượng kiếp quá khứ, Quán Thế Âm Bồ Tát đã sớm viên mãn thành Phật; sự thành Phật ấy còn trước cả Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Tuy nhiên, do đại nguyện từ bi sâu rộng nhằm thành tựu đạo nghiệp cho hết thảy chúng sinh, Ngài vẫn thị hiện thân Bồ Tát để cứu độ muôn loài. Tâm từ bi của Ngài là tấm gương tiêu biểu và mẫu mực cho chư Phật, chư Bồ Tát. Mỗi vị Bồ Tát khi thành tựu đạo quả đều phát những đại nguyện khác nhau, như Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. Mỗi vị có nguyện lực riêng biệt, mỗi nguyện lực đều có đặc điểm và sở trường khác nhau; tuyệt đối không nên đem các vị ra so sánh với nhau. Điều này cần phải ghi nhớ, vì chư Bồ Tát đều đầy đủ trí tuệ viên dung, chỉ khác nhau ở nguyện lực mà thôi. Khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, Ngài cũng khuyên những chúng sinh đang chịu khổ nạn nên niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, huống hồ là chúng ta ngày nay?

Tiếp theo, Sư phụ giảng về “kiến địa tương đẳng”. Theo cách nói hiện nay, đó là sự tương ưng về nhận thức và trình độ hiểu biết giữa hai người. Ví dụ, quý vị từng du học tại Mỹ, người kia từng du học tại Anh; như vậy có thể xem là kiến địa tương đẳng. Trong việc học Phật cũng vậy, nền tảng tu học cần có sự tương xứng; chỉ khi hai bên ở cùng một mức độ nhất định, quý vị mới có thể truyền trao Phật pháp thù thắng ấy cho người kia. Thuở xưa nói “Phật truyền Phật”, nghĩa là sự truyền thừa diễn ra trong sự tương ưng sâu sắc, không giống như hình thức giảng dạy đại trà ngày nay, mà là sự truyền trao trực tiếp, cá biệt. Hiện nay là thời mạt pháp, nếu muốn truyền trao từng người một, thì kiến địa của người được truyền cần tương đồng với người truyền; tức là trình độ văn hóa, mức độ tín tâm và cảnh giới tu học phải có sự tương hợp. Đó gọi là kiến địa tương đẳng. Chỉ khi có sự tương ưng ấy mới có thể hình thành sự truyền thừa chân chính; việc cứu độ chúng sinh ngày nay cũng không ngoài nguyên tắc đó.

Nếu quý vị hiểu biết nhiều điều nhưng đó không phải là chân lý chân chính của chư Phật, chư Bồ Tát mà chỉ là những đạo lý thế gian, thì cũng giống như trong tâm đã đổ đầy nước; khi nước đã đầy, sẽ không thể thêm vào nữa, nghĩa là không còn khả năng tiếp nhận những chân lý cao sâu và thuần tịnh hơn. Ví như mùa đông muốn uống nước nóng, nhưng trong ly đã có sẵn nước lạnh; dù thêm nước nóng vào thì nước trong ly cũng chỉ trở thành ấm, chứ không thể là nóng thực sự. Chỉ khi đổ bỏ nước lạnh đi, rót vào hoàn toàn nước nóng, mới có được nhiệt độ thuần nhất. Vì thế, quý vị cần làm cho tâm mình thanh tịnh, buông bỏ những chấp trước đối với những điều đã từng học trước đây; không nên giữ trong tâm ý niệm “pháp môn này học một ít, pháp môn kia học một ít”. Nếu không, làm sao có thể tiếp nhận trọn vẹn pháp môn thù thắng được truyền dạy? Học Đông một ít, học Tây một ít, thực chất chỉ là pha trộn những điều mà chính mình cũng chưa chắc đã hiểu rõ đúng sai. Tu tâm cần có cảnh giới chuyên nhất; ví như mỗi ngày được tưới tẩm bằng “nước nóng”, nhưng nếu không chịu buông xả những tạp niệm cũ, thì rốt cuộc chỉ có thể nhận được “nước ấm”, mà không thể thọ hưởng sự tinh thuần trọn vẹn. Đó chính là cách dùng lời lẽ giản dị để giảng giải Phật pháp.

Vậy làm thế nào để đạt được pháp môn này? Hãy ghi nhớ rằng cần chuyên tâm thâm nhập một đường tu học. Nếu bản thân quý vị có quá nhiều ý kiến riêng, tâm trở nên tạp loạn, lại thường xuyên tiếp xúc với đủ loại người và sự việc cùng những thị phi tranh chấp của thế gian, thì những điều thiêng liêng và thuần tịnh sẽ khó có thể đi vào nội tâm, càng không thể bén rễ vững chắc. Bởi lẽ, những giá trị thiêng liêng không dung chứa sự tạp nhiễm hay cấu uế. Nghĩa là trong tâm không nên còn lưu giữ những điều không tương hợp với con đường mình đang theo đuổi. Đó chính là biểu hiện của cảnh giới tu học. Vì vậy, cần chuyên nhất thâm nhập; đời người hữu hạn, thời gian một kiếp sống chỉ đủ để chuyên tâm theo đuổi một hướng đi. Học quá nhiều chưa chắc đã tinh tấn, lại càng khó đạt đến chiều sâu, thậm chí có thể không thành tựu.

Pháp môn của Sư phụ được mọi người kính ngưỡng là bởi đây là pháp môn thích hợp và lợi lạc cho hàng cư sĩ tại gia, thuận tiện trong tu học và ứng dụng vào đời sống thường nhật. Trên con đường hoằng pháp, chúng ta cần kiên trì đến cùng; việc cứu độ chúng sinh cũng phải thực hiện đến nơi đến chốn. Chỉ cần quý vị thường xuyên quan tâm đến người khác, người khác tự nhiên sẽ quan tâm lại quý vị; thường khởi tâm từ bi đối với người, ắt sẽ được chư Bồ Tát từ bi gia hộ.

Nói với quý vị một đạo lý: quan tâm người khác chính là quan tâm chính mình; khởi tâm từ bi với người cũng chính là từ bi với chính mình. Con người thường mê muội ở chỗ chỉ biết nghĩ cho mình mà quên nghĩ cho người; nhưng thực ra, chỉ lo cho mình mà bỏ quên người khác rốt cuộc lại là tự làm tổn hại chính mình, đó là quy luật nhân duyên tương tác trong đời sống. Khi quý vị biết cho đi, điều nhận lại không chỉ là lợi ích hữu hình, mà còn là niềm vinh quang cao thượng, là sự hoan hỷ sâu xa, là ý nghĩa chân thật của đời người. Bố thí chính là chân nghĩa ấy, từ bi cũng chính là chân nghĩa ấy. Người không hiểu bố thí và từ bi khó có thể cảm nhận được pháp hỷ; cũng như người chưa từng khen ngợi ai thì hiếm khi được người khác khen ngợi lại, tự mình đánh mất cơ hội vui vẻ và hạnh phúc.

Chỉ khi đạt đến sự bình đẳng và tương ưng mới có thể âm thầm trao truyền; nếu không, sự truyền trao ấy dễ trở thành vọng truyền. Thế nào gọi là vọng truyền? Ví như người kia không tin chư Phật, chư Bồ Tát, quý vị giảng giải nhiều lần mà cuối cùng họ vẫn không khởi tín tâm, thì sự truyền dạy ấy trở nên vô ích. Thuở xưa, các đệ tử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni theo Ngài học Phật, tu tâm, trước hết đều khởi lòng tin nơi Đức Phật; nhờ có niềm tin ấy, Ngài mới có thể truyền trao pháp môn cho họ. Ngày nay, quý vị theo Sư phụ học Phật cũng là vì có tín tâm nơi Sư phụ, nơi pháp môn được truyền dạy và nơi Quán Thế Âm Bồ Tát. Giữa thầy và trò cần có sự tương ưng bình đẳng; bởi quý vị có căn cơ, có sự giác ngộ và nền tảng tu học từ nhiều đời trước nên mới có thể tiếp nhận pháp môn. Nếu thiếu niềm tin ấy, thì dù có truyền dạy, kết quả cũng khó thành tựu.

Hôm nay giảng đến đây. Lần sau sẽ tiếp tục bàn về ý nghĩa của bình đẳng và diệu pháp.

Chuyên mục