Bạch Thoại Phật Pháp - Bộ 12 Quyển - Quyển 2

Bạch Thoại Phật Pháp - Bộ 12 Quyển - Quyển 2

Tập 20. Dùng trợ lực đưa Phật, Bồ Tát vào trong tâm

Bộ 12 Quyển - Quyển 2 25 Th06 2026

20. Dùng trợ lực đưa Phật, Bồ Tát vào trong tâm

QUYỂN 2 – TẬP 20

DÙNG TRỢ LỰC ĐƯA PHẬT, BỒ TÁT VÀO TRONG TÂM

(

用助力把佛菩萨植入心中

)

Lần trước đã giảng với quý vị về pháp tương ưng. Thực ra, pháp tương ưng cần phải nương vào trợ động lực. Thế nào gọi là trợ động lực? Chính là một loại sức mạnh nâng đỡ và thúc đẩy nội tâm. Ví dụ, khi quý vị đang tu tâm, có người đến nói: “Pháp môn khác tốt lắm, đừng tu pháp môn này nữa.” Nếu lúc ấy quý vị bắt đầu dao động, tâm trí không còn rõ ràng, thì cần phải có một loại trợ động lực để nâng đỡ mình. Trợ động lực này chính là sức mạnh của niềm tin kiên định. Nếu quý vị đem từng chút trải nghiệm tu học trong quá khứ mà gom lại, như sau khi niệm kinh vận trình chuyển biến tốt hơn, người khác niệm cũng có chuyển biến; những lần linh nghiệm từng chứng nghiệm; lòng từ bi của Bồ Tát đã từng cảm nhận, tất cả những điều ấy hợp lại sẽ hình thành một loại trợ động lực. Người khác nói pháp môn khác tốt, nhưng tôi kiên định tin tưởng pháp môn này, tôi chỉ tu theo pháp môn của Sư phụ mình, đó chính là trợ động lực. Ngoài ra còn có một loại nữa gọi là sức mạnh chân thực. Trợ động lực sẽ dẫn sinh ra sức mạnh chân thực. Sức mạnh chân thực là gì? Ví dụ như người này bệnh nặng được chuyển biến tốt, người kia được kéo dài tuổi thọ… những điều ấy đều là biểu hiện của sức mạnh chân thực. Chính những sức mạnh chân thực này sẽ thúc đẩy quý vị sinh khởi loại trợ động lực ấy, để tùy theo nhân duyên của mình mà tương ưng giải quyết vấn đề.

Các đệ tử phải ghi nhớ: bất kỳ sự cảm ứng nào cũng cần có năng lực phán đoán chân thực. Nếu trong lúc niệm kinh, trong quá trình học Phật, quý vị có cảm ứng, thì cần dùng sự phán đoán chân thực để nhận định. Thế nào gọi là cảm ứng chân thực? Là cảm ứng có tính chân thực, không phải hư huyễn. Ví dụ, khi niệm kinh, thật sự thấy được hình ảnh Quán Thế Âm Bồ Tát; cảm ứng ấy tương ưng rõ ràng, chân thật khởi lên – điều đó cho thấy việc niệm kinh có hiệu quả, công phu có tiến bộ. Nhưng có người khi niệm kinh, bên tai như có tiếng nói, dường như nghe được, lại dường như không nghe rõ. Vậy đó có phải là lời của Quán Thế Âm Bồ Tát không? Có thể là, cũng có thể không. Đó chính là cảm ứng không chân thật.

Trong mộng, thế nào là chân thực? Thế nào là không chân thực? Trong mộng, dù nhìn thấy bất cứ tướng nào, cũng không nên chấp trước vào tướng ấy. Tuy nhiên nếu trong mộng thấy hình tướng Quán Thế Âm Bồ Tát có ánh kim quang rực rỡ, thì có khả năng đó là cảm ứng chân thực. Nếu trong mộng thấy hình tượng Phật hoặc Bồ Tát, biết rõ đó là hình tượng Bồ Tát, nhưng không có ánh sáng, thì cũng có khả năng không phải là Bồ Tát. Ví dụ như nơi nhân gian, có nhiều diễn viên đóng vai lãnh đạo, hình dáng gần như có thể lấy giả làm thật. Quý vị có thể hiểu được đạo lý này không? Con người thông qua hóa trang mà có thể thay đổi diện mạo; trong cảnh giới vô hình cũng có sự biến hóa. Vì vậy, đối với những cảnh tượng hư huyễn ấy, cần phải nhìn ra yếu tố chân thực trong đó, rồi đối chiếu, vận dụng trí tuệ của mình để phân biệt, nhận định, khi ấy mới có thể biết được đâu là thật, đâu là giả.

Dùng tâm bình thường mà nhìn thế gian. Phải lấy một tâm hết sức bình thường để nhìn thế giới này. Mọi sự, mọi vật trong đời đều vốn rất tự nhiên. Đối với bất cứ việc gì cũng không chấp trước. Hôm nay có cái ăn thì biết ơn; hôm nay không có cái ăn cũng biết ơn. Việc gì cũng biết ơn. Người thật sự có trí huệ, mở miệng ra là nói “cảm ơn”. Hai chữ “cảm ơn” trở thành một ngôn ngữ quen thuộc, có thể thốt ra bất cứ lúc nào, dần dần trở thành một bức tường phòng hộ trong ý thức. Đó chính là trí huệ. Đó gọi là dùng tâm bình thường mà nhìn thế gian, không có điều gì khiến mình phải lo lắng, không có điều gì khiến mình phải phiền não; mọi việc trên đời đều là điều tự nhiên.

Nếu có thể xem tất cả những việc xảy ra nơi nhân gian đều là bình thường, thì quý vị sẽ không còn buồn khổ, không còn thương tâm, không còn bi ai. Chỉ khi giữ được tâm bình thường, nội tâm mới có thể an trụ; tâm an trụ rồi mới có thể an định, và dừng lại sự vận hành của phiền não. Khi nhìn mọi sự đều nhạt nhẹ, thuận theo tự nhiên, không cưỡng cầu, không phóng đại, thì tâm sẽ dần trở nên bình lặng. Tâm đã bình lặng thì tự nhiên được an ổn; an ổn rồi thì không còn dao động. Tâm không còn dao động – đó gọi là an chỉ. Con người trước khi hành động, trước hết là tâm động, rồi sau đó mới phát sinh hành vi. Khi một người nổi nóng hay bốc đồng, trước tiên là tâm đã dao động, rồi mới biểu hiện thành hành động bên ngoài.

Phải học cách nhận diện những điều không thiện, không để bị mê hoặc bởi các huyễn tướng, tức là không để những hiện tượng hư ảo làm cho mình mê lầm. Sư phụ nói với quý vị: bề ngoài của con người vốn đã là một loại huyễn tướng. Con người có hai mặt; sự vật cũng có hai mặt. Vì vậy, không nên bị những huyễn tướng nơi nhân gian làm mê hoặc. Điều quý vị nhìn thấy chưa chắc đã là chân thật; điều quý vị không nhìn thấy cũng chưa chắc là hư ảo. Mọi việc đều cần nương vào sự giác ngộ và trí huệ để phân biệt.

Tu pháp chính là một quá trình thể ngộ. Tu pháp là tu sửa chính mình ngay trong đời sống nhân gian, là tu hành giữa các pháp môn của đời sống con người. Pháp nơi nhân gian là gì? Chính là làm việc thiện, tạo công đức, giúp đỡ người khác; thành tựu “đại ngã”, chế ngự “tiểu ngã”. Tất cả những điều ấy đều thuộc về sự tu hành giữa nhân gian. Ở đời phải lấy thiện đãi người, phải biết giúp đỡ, thực hành bố thí… Những điều này đều là đang tu pháp. Tu pháp cũng là quá trình thể nghiệm và giác ngộ từ chính cảm thọ của mình; từ đó ngộ ra đạo lý nhân gian, rồi đem đạo lý ấy giúp người khác. Khi quý vị giúp người, người cũng sẽ giúp lại quý vị. Sau khi khai ngộ, quý vị sẽ hiểu rằng: khi mình niệm kinh, Bồ Tát sẽ gia hộ, sẽ bảo hộ cho mình.

Người có tâm bị tướng chuyển, bị cảnh mê hoặc, thì sẽ đảo lộn gốc ngọn; nghĩa là rất nhiều người để cho tâm mình xoay chuyển theo cảnh giới.

Ví dụ, mọi người đều đang làm một việc gì đó, mình cũng làm theo. Rõ ràng việc ấy không phải điều thiện, nhưng vì thấy người khác làm mà mình cũng làm, như vậy chẳng phải là đã đảo lộn gốc ngọn sao? Quý vị bị mê hoặc bởi cảnh tượng “ai cũng làm”, mà đánh mất lương tâm và bản tính tốt đẹp vốn có; chỉ nhìn thấy bề ngoài hư ảo mà quên mất nội tâm chân thật. Quý vị có hiểu đạo lý này không? Vì vậy, tâm không nên bị hoàn cảnh xoay chuyển. Khi mọi người đều làm một việc, chưa chắc mình phải làm theo. Người khác có chuyển thế nào, mình cũng không nhất thiết phải chuyển theo. Phải ghi nhớ: đừng để cảnh tượng trước mắt làm mê hoặc; tuyệt đối không được lấy giả làm thật. Cần học cách tâm không theo cảnh mà chuyển; linh không theo duyên mà chuyển, tức là linh không theo nghiệp mà chuyển.

Sư phụ dạy rằng, các đệ tử phải ghi nhớ: hãy đem mười phương ba đời chư Phật an trụ vào trong tâm mình. Tâm của quý vị phải giống như một vườn hoa, quanh năm nở rộ, bốn mùa như xuân, để chư Phật được gieo trồng và hiện hữu trong đó. Hãy đặt Phật trong tâm mình, hợp nhất với Phật, hợp nhất với Bồ Tát. Khi tâm đã tương ưng như vậy, thì quý vị chính là Phật, là Bồ Tát. Khi đem hình tượng của Bồ Tát, ngôn ngữ của Bồ Tát đặt vào trong tâm, ghi sâu vào ý thức; từ thân thể cho đến linh hồn đều thấm nhuần phẩm chất của Bồ Tát, vậy quý vị nói xem, mình có phải đang dần trở thành Bồ Tát hay không? Đó chính là điều Phật pháp gọi là tức thân thành Phật.

Sư phụ còn dạy một pháp môn gọi là vô niệm. Vô niệm nghĩa là trong tâm không khởi vọng niệm. Khi một người niệm kinh mà trong tâm không có tạp niệm xen vào, tâm rỗng rang, thanh tịnh, đó chính là diệu pháp. Vô niệm không phải là không có suy nghĩ, mà là không chấp trước vào niệm. Khi trong tâm không còn chấp trước, thì mọi phiền não cũng không còn được xem là phiền não. Ví dụ, khi sinh khởi phiền não, đừng nghĩ đến nó, hãy buông xuống, để nó tự qua đi – đó chính là vô niệm. Tất cả phiền não, đừng hồi tưởng, đừng lặp lại trong tâm, đừng lưu giữ chúng. Điểm này vô cùng quan trọng. Người lớn tuổi thường thích nhớ lại những chuyện không vui trong quá khứ – đó chính là một loại chấp niệm. Việc đã qua thì không cần quay lại. Phiền não của hiện tại rồi cũng sẽ trở thành quá khứ; vì vậy hãy hóa giải ngay trong hiện tại, để nó tự nhiên trôi qua. Phiền não của tương lai thì đừng khởi nghĩ. Hãy học cách làm cho nội tâm rỗng rang, đoạn trừ những phiền não của chính mình. Khi ấy, sự thông minh nơi thế gian mới có thể chuyển hóa thành trí tuệ. Phải đem cái thông minh của nhân gian chuyển thành trí tuệ của Phật, của Bồ Tát.

Sư phụ mong rằng quý vị tinh tấn học Phật, nghiêm túc làm người. Tuyệt đối đừng khắc ghi phiền não trong tâm; cũng đừng giữ mãi những chuyện đã qua trong lòng. Phải học cách buông xuống ngay trong hiện tại, thuận theo nhân duyên mà an nhiên sống.

Chuyên mục